Chào mừng bạn đến website của Viện Quy hoạch Thủy lợi

lịch công tác

Báo cáo chất lượng nước sông Nhuệ năm 2019

Trục chính sông Nhuệ dài khoảng 76 km, đóng vai trò quan trọng trong việc phân lũ, tiêu thoát nước, cung cấp phù sa, tái tạo dinh dưỡng tự nhiên, cung cấp nước cho các hoạt động phát triển kinh tế trong vùng. Hiện nay, nhiều thời điểm nước sông Nhuệ đã bị ô nhiễm đến mức phải pha thêm nước sông Hồng từ cống Liên Mạc để giảm bớt mức độ ô nhiễm, tuy nhiên sự cải thiện cũng không đáng kể bởi sông phải hứng chịu lượng chất thải, nước thải quá lớn từ các hoạt động phát triển kinh tế, hầu hết chưa được xử lý hoặc xử lý không triệt để. Trước những yêu cầu về phát triển bền vững kinh tế-xã hội cho các  tỉnh và vùng lãnh thổ, vấn đề giám sát chất lượng nước trong hệ thống lưu vực sông Nhuệ là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách. 

Xác định nguồn thải: Quá trình điều tra, thống kê, tổng hợp hiện trạng các nguồn thải trên hệ thống thủy nông sông Nhuệ đến nay cho thấy:

- Có khoảng 260 các điểm xả công nghiệp, khu đô thị, làng nghề, sản xuất nông nghiệp, bệnh viện và khoảng 133 điểm xả dân sinh trực tiếp vào hệ thống sông Nhuệ.

- Lượng nước thải sinh hoạt được xác định là nguồn thải lớn nhất.

- Trên toàn bộ lưu vực sông Nhuệ có 1.231 cơ sở sản xuất nhà máy và 23 khu cụm công nghiệp đổ nước thải ra lưu vực.

- Trên toàn lưu vực có khoảng 450 làng nghề và hơn 45.500 cơ sở sản xuất kinh doanh hộ cá thể.

- Trên lưu vực có 88 cơ sở y tế, bệnh viện lớn.

Thành phần và tải lượng ô nhiễm của các loại nước thải khác nhau. Tuy nhiên khi thải ra ngoài môi trường đều sẽ làm tăng ô nhiễm nguồn tiếp nhận.

Nhận định chất lượng nước

- Chất lượng nước trên trục chính sông Nhuệ và các kênh nhánh hầu hết đã bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, tại điểm lấy nước cống Liên Mạc hiện nay khi mùa kiệt nước sông Hồng xuống thấp, tình trạng xả nước thải của các khu dân cư, nhà máy, cơ sở sản xuất trong nội thành là rất lớn thì hiện tượng nước sông Nhuệ chảy ngược ra sông Hồng là rất dễ xảy ra khi đó chất lượng nước tại cống Liên Mạc sẽ bị ô nhiễm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước sông Hồng. Ô nhiễm nước sông Nhuệ xuôi về hạ lưu tới cầu Thần và thượng lưu Đập Nhật Tựu mới có dấu hiệu giảm xuống. Tại hạ lưu hiện tượng nước sông Đáy chảy ngược chiều vào sông Nhuệ tại cầu Vân – Phủ Lý và lên đến tận cống Lương Cổ, đập Nhật Tựu giúp pha loãng đáng kể làm giảm ô nhiễm nước sông Nhuệ.

- Hầu hết tại các vị trí đều xảy ra hiện tượng ô nhiễm của các chất hữu cơ, vi sinh như COD, BOD5, Coliform và các chất thuộc nhóm N như NH4+, NO2-. Đặc biệt trước diễn biến xả thải ô nhiễm ồ ạt từ các nhà máy, cơ sở sản xuất, khu dân cư, khu đô thị, …vào các kênh nhánh và trực tiếp vào sông Nhuệ trong khi nguồn nước bị đóng kín, không có chế độ tiêu thoát hợp lý trên cả các kênh nhánh và trục chính sông Nhuệ thì hàm lượng Nitơ và Phôtpho trong nước thải rất cao, quá trình tích lũy tương đối P/N sẽ xảy ra rất dễ xảy ra hiện tượng phú dưỡng.

- Nhiều vị trí xuất hiện hàm lượng ôxy trong nước DO nhỏ hơn 1 mg/l và mức độ xuất hiện là thường xuyên trong cả 15 đợt khảo sát. Chỉ số Oxy hòa tan thấp phản ánh thực chất ô nhiễm trên sông Nhuệ, loài cá có thể sống trong môi trường ô nhiễm như cá dọn bể còn chết hàng loạt là hiện tượng phản ánh sông Nhuệ bị ô nhiễm trầm trọng.

- Các vị trí trên dòng chính sông Nhuệ, bắt đầu từ vị trí hạ lưu cống Liên Mạc 2 đã xảy ra tình trạng ô nhiễm về các chất hữu cơ, vi khuẩn và đặc biệt là các vị trí sau khi nhập lưu của kênh Xuân La, Phú Đô, Cầu Ngà, Trung Văn, La Khê cùng rất nhiều các nguồn thải dân sinh qua các họng cống nhỏ khác.

- Đối với các điểm đo đạc là các kênh xả nước thải chính cho thấy nguồn nước tại các vị trí này hàm lượng các chất ô nhiễm rất cao, góp phần làm cho nguồn nước trong hệ thống bị ô nhiễm. Các vị trí như sông Đăm, sông Cầu Ngà, đập Thanh Liệt, kênh Phú Đô thì chất lượng nước rất đáng lo ngại, mức độ ô nhiễm vượt rất nhiều so với giá trị giới hạn B1 của tiêu chuẩn nước mặt QCVN 08-MT: 2015/BTNMT.

Đánh giá chất lượng nước theo trục dọc sông

Tại tất cả các vị trí khảo sát trên dòng chính sông Nhuệ đều xảy ra tình trạng ô nhiễm các chất hữu cơ. Ngoài trừ vị trí Cống Liên Mạc khi mực nước sông Hồng cao thì chất lượng nước sông Nhuệ tại cống Liên Mạc khá tốt. Tuy nhiên khi mực nước sông Hồng xuống thấp thì xu hướng nước chảy ngược từ trong sông Nhuệ ra sông Hồng làm chất lượng nước tại điểm đầu vào cống Liên Mạc bị ô nhiễm, trong năm 2019 qua 15 lần khảo sát thực địa nhận thấy có 3 lần nước sông Nhuệ chảy ngược ra sông Hồng; 6 đợt đóng cống Liên Mạc 2 thì mực nước hạ lưu đều cao hơn thượng lưu.

Chất lượng nước sông Nhuệ bắt đầu bị ô nhiễm khi đi vào hệ thống qua cống Liên Mạc 2. Đặc biệt khi đến Hà Đông do ảnh hưởng của nước thải quận Hà Đông, nước thải từ sông Đăm, sông Cầu Ngà, trạm bơm Đồng Bông (tiêu thoát khu vực Mễ Trì, Mỹ Đình), kênh La Khê, kênh Trung Văn tình trạng ô nhiễm càng nặng nề đặc biệt tại vị trí Cầu Tó khi đập Thanh Liệt mở cống và hiện tượng ô nhiễm duy trì đến tại vị trí cầu Xém, đập Đồng Quan, cầu Thần xuống Nhật Tựu, có những thời điểm lan truyền ô nhiễm xuống tận cống Lương Cổ và cầu Phù Vân. Tại các vị trí hạ lưu như cầu Phù Vân, cống Lương Cổ, đập Nhật Tựu nếu mở đập Nhật Tựu thì chất lượng nước từ thượng lưu dồn về sẽ gây ô nhiễm; khi đóng đập Nhật Tựu trong những thời điểm triểu đẩy lên thì đoạn hạ lưu từ Phù Vân tới Nhật Tựu lấy được nước từ sông Đáy vào. Đây là cơ sở để điều hành vận hành tận dụng lấy nước đoạn hạ lưu trục chính sông Nhuệ.

Đánh giá chất lượng nước theo thời gian

Dọc trục chính qua thời gian từ 2005 đến 2019:  Diễn biến chất lượng nước qua các năm dọc trục chính sông Nhuệ rất phức tạp, các chỉ tiêu ô nhiễm biến đổi không ổn định có xu hướng tăng sự ô nhiễm về những năm gần đây. Hàm lượng TSS tăng rồi giảm xong có xu hướng tăng dần về những năm gần đây. Hàm lượng Coliform tăng mạnh sau đó giảm rồi lại tăng dần. Hàm lượng các chất hữu cơ trong nước thay đổi đột ngột theo từng năm, có xu hướng tăng mạnh vào mùa kiệt hàng năm. Đặc biệt chỉ số Oxy hòa tan giảm mạnh vào những năm gần đây. Hàm lượng các chất ô nhiễm nhóm N cũng vậy giảm rồi tăng về những năm 2010, 2011, 2012 và đặc biệt là năm 2017. Dọc trục chính sông Nhuệ từ năm 2005 đến 2019 qua bảng số liệu ở dưới có thể thấy rằng các giá trị hàm lượng các chất hữu cơ trong nước trong những năm gần đây có xu hướng tăng cao. Hàm lượng chỉ số Oxy hòa tan trong nước giảm. Giá trị trung bình hàm lượng DO trên dọc trục chính sông Nhuệ cao nhất vào năm 2008 và thấp nhất vào năm 2011. Hàm lượng NH4+ tăng cao nhất vào năm 2017, hàm lượng NO2- cao nhất vào năm 2006 xong giảm rồi lại tăng trong 2 năm gần đây

Kênh trục chính: Những năm gần đây thực tế quan trắc cho thấy khi mực nước ngoài sông Nhuệ cao, đóng đập Nhật Tựu thì nước từ sông Nhuệ sẽ chảy vào kênh Duy Tiên là kênh tưới cho khu vực huyện Duy Tiên làm cho chất lượng nước kênh Duy Tiên bị ô nhiễm. Kết quả quan trắc từ năm 2005 đến 2019 trên kênh Duy Tiên tại Cầu Giẽ cho thấy chỉ số pH biến đổi khá ổn định qua các năm. Hàm lượng DO giảm dần về năm 2010, 2011 và đang có xu hướng tăng về năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019. Hàm lượng các chất hữu cơ trong nước khá cao, hàm lượng COD giảm rồi tăng qua các năm. Về cuối năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 hàm lượng COD, BOD5 đang có xu hướng tăng. Hàm lượng NH4+ trong nước tăng cao về 6 năm gần đây 2012, 2013, 2015, 2017, 2018, 2019. Các giá trị NH4+ trong tháng 2 các năm 2012, 2013, 2015, 2016, 2018, 2019 đều vượt quá giá trị giới hạn B1, B2 của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT.

Nhận định về chất lượng nước trên hệ thống:

Chất lượng nước sông Nhuệ bắt đầu bị ô nhiễm khi đi vào hệ thống sau điểm nhập lưu của sông Đăm, kênh Xuân La vào sông Nhuệ. Đặc biệt khi đến Hà Đông do ảnh hưởng của nước thải quận Hà Đông, nước thải từ sông Đăm, sông Cầu Ngà, trạm bơm Đồng Bông (tiêu thoát khu vực Mễ Trì, Mỹ Đình), kênh La Khê, kênh Trung Văn tình trạng ô nhiễm càng nặng nề đặc biệt tại vị trí Cầu Tó khi đập Thanh Liệt mở cống và hiện tượng ô nhiễm duy trì đến tại vị trí cầu Xém, đập Đồng Quan xuống Nhật Tựu, có những thời điểm lan truyền ô nhiễm xuống tận cống Lương Cổ. Tuy nhiên việc hàm lượng các chất ô nhiễm giảm xuống diễn ra không nhanh và thường thì đến khi tới tận vị trí hạ lưu sông Nhuệ tại Phủ Lý thì hàm lượng ô nhiễm cũng vẫn còn là khá cao và nhiều khi vẫn còn vượt quá giới hạn B1, B2 của QCVN 08-MT: 2015/BTNMT

Kiến nghị: Đề cải thiện môi trường nước sông Nhuệ cần thiết thực hiện các loại giải pháp khác nhau như: thực hiện các biện pháp công trình và phi công trình. Các biện pháp phi công trình bao gồm các biện pháp quản lý, kỹ thuật… các biện pháp này cần có sự phối hợp, bổ trợ lẫn nhau nhằm mục tiêu chung là cải thiện môi trường lưu vực, trong đó có môi trường nước sông.

Nguồn: Phòng thí nghiệm và tư vấn quản lý chất lượng nước, môi trường, IWRP

Tin khác

Top